Tiến Giấy Thời Đệ Nhất Cộng Hòa
...

Trương Công Định

Ông Trương Định người huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, là con ông Lãnh Binh Trương Cầm, người huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Khi ông Trương Cầm làm chức Vệ Úy ở Gia Định thời vua Thiệu Trị, ông theo thân phụ vào Gia Định để lấy vợ ở Tân An tỉnh Định Tường, và ở luôn quê vợ. Thời vua Tự Đức, 1854, sau khi nghe lời Nguyễn Tri Phương kêu gọi lập đồn điền, ông đứng ra mộ lập dân binh để khai khẩn ruộng đất được thưởng hàm Lục phẩm, chức Quản cơ.

Năm 1860, ông phục vụ tại đồn Kỳ Hòa, Gia Định, dưới quyền Nguyễn Tri Phương. Đến ngày 17 tháng hai 1859, thành Gia Định bị thất thủ do Trung tướng Rigault de Genouilly chiếm, khắp nước đều đặt trong tình trạng báo động và nhất tề đứng lên chống ngoại xâm. Sau khi đồn Kỳ Hòa do Nguyễn Tri Phương cố thủ bị quân Pháp chiếm ông vẫn tiếp tục chiến đấu và triều đình ngấm thăng ông chức Lãnh Binh. Ông thu thập tàn quân rút về Gò Công kháng Pháp. Quân Pháp đã bị thiệt hại nặng nề trong một trân phục kích chiếm Gò Công nên phải xin viện binh từ Sài Gòn mới chiếm được Gò Công ngày 14-12-1961. Chiến thuật du kích của nghĩa binh hiến Pháp không đặt được bộ máy hành chánh ở thôn quê. Triều đình Huế đặt nhiều hy vọng vào ông nên đã ngầm khắc ấn "Bình Tây Đại Nguyên Soái" gởi vào phong chức cho ông. Thanh thế ông vang dội nhất là trận đánh úp quân Pháp bằng địa đạo vào tháng 4 năm 1862, chiếm lại Gò Công và phóng ra mấy cuộc công hãm để giành lại các thị trấn như Chợ Gạo, Cái Bè, và Tân An.

Sau hòa ước Nhâm Tuất 1862 được ký kết, ông chiêu mộ quân sĩ để chống Pháp. Triều đình dụ ông bãi binh nhưng ông không chịu. Vì ông chiến đấu cống ngoại bang hợp với lòng dân, nên nhân dân suy tôn ông làm lãnh tụ để tiếp tục kháng chiến và gọi ông là Bình Tây Đại Nguyên Soái.

Địa bàn hoạt động của nghĩa quân ông chiếm khắp cả ba tỉnh miền đông. Quân Pháp điêu đứng vì chiến thuật du kích của nghĩa quân nhứt là những tiền đồn ở vùng Phú Lâm, Bà Hom, Tân Hòa, Bến Lức, Tân An bị tổn thất liên miên. Trong trận phục kích vào đêm 7 tháng 12 năm 1860, ông đốt phá được đồn Pháp đóng tại chùa Kiểng Phước (trên đường Nguyễng Tri Phương ngày nay) giết được viên chỉ huy Pháp và trên 160 lính Pháp và Tây Ban Nha. Sau đó nghĩa binh chận đưòng ám sát được Đại uý Barbé tại chùa Khải Tường (góc đường Nguyễn Đình Chiểu và Trương Minh Giảng).

Thấy tình trạng càng ngày càng khẩn trương, phó Đề đốc Bonnard cử tay sai là Tôn Thọ Tường đến điều đình để ông giải binh, nhưng ông từ chối và càng hoạt động mạnh, Bonard phải cầu cứu với Phó Đề đốc Jaurès ở mặt trận bên Tàu và được viện binh hùng hậu: Tiểu đoàn bộ binh Algérie, một tiểu đoàn khinh binh Bắc phi, ngoài ra quân Tây Ban Nha cũng gởi 800 người từ Phi Luật Tân qua tiếp để mở đường xuống Bến Lức đánh vào căn cứ chính của ông ở Gò Công.

Thántg Giêng năm Qúi Hợi 1863, ông bị quân Pháp vây ở Tân Hòa, ông chống cữ luân mấy ngày, khi hết đạn, quân ông tan vỡ, ông chạy thoát. Ngày 25 tháng 2 năm 1863, quân Pháp, Tây Ban Nha đánh chiếm chiến lũy Đồng SSon cách Gò Công 11 cây số về phía Tây Bắc, đồng thời mang quân từ Mỹ Tho sang Chợ Gạo để án ngử nghĩa quân phía Tây Nam. Các cửa sông như cửa sông Vàm Cỏ, cửa Tiểu, cửa Soài Rạp đều bị các pháo hạm chận bít, ngoài ra chúng đóng oại thuyền nhẹ bọc sắt, mỗi cái chở 6 người để vượt sình lầy cho dễ dàng.

Nghĩa quân bị bao vây, chống cự suốt mấy ngày , khi hết đạn phải chịu tan vỡ, ông chạy thoát. Thu thập tàn binh, ít lâu sau ông lại khởi binh. Ngày 19 tháng 8 năm Giáp Tý 1864,ông mang quân đánh úp Tân Hòa, bị một tên thuộc hạ là Huỳnh Tấn làm phản, báo cho quân Pháp tấn công bất ngờ. Tên này chính là Huỳnh Công Tấn, trước kia đã theo Trương Định đánh Pháp nhưng bỏ hàngh ngũ kháng chiến để theo Pháp. Tên phản tướng muốn bắt sống ông để lập công lớn nhưng ông liều tử chiến, nên bị bắn gãy xương sống, chết tại trận. Bốn đầu lãnh thuộc địa hạt Phước Lộc cũng bị giết, người đầu lãnh thứ năm thuộc địa hạt Tân Hòa mà người ta đồn cũng là yếu nhân của nghĩa quân cũng bị thương và bị bắt. Con ông là Trương Huệ kéo tàn quân lên Co Miên kết nạp thêm binh sĩ đem về chiến đấu nữa, nhưng rồi cũng thất bại và bị giết.

Năm 1871, vua Tự Đúc xét công trạng của cha con ông có lòng trung nghĩa, sai dựng đền thờ nơi ssỏ tại để phụng tự. Tên của ông chỉ có hai chữ Trương Định như đa số dân Quảng Ngải (chao ông tên Trương Cầ, con ông tên Trương Huệ) tạisao ngày nay trên văn thơ cũng như tên các con đường đều có lót chữ Công? Theo sách Sử Địa, ngày trưóc khi tỏ lòng sùng kính ai, khi viết văn tế thì khay đệm thêm chữ Công, ví dụ như ta thường ggạp trong nhiều văn bả: Trịnh Công Hoài Đức (Trịnh Hoài Đức), Lê Công Quang Định (Lê Quang Định)

Mộ ông và đề htờ hiên nay ở đường Lý Thường Kiệt trong thị xã Gò Công. Trước kia, lú công chết, dân chúnglén xây bằng đá ong với hồ vôi ô dước. Trên bia mộ có đề: "Đại Nam Bin2h Tây Đại Tướng Quân Trương Công Định chi mộ" và hai cay trụ trước mộ có đôi câu đối:

Sơn hà thâu chính khí

Nhựt nguyệt chiếu đan tâm.

Sau đó mộ bị thực dân bầm nát. Đến năm 1945, mộ bia đươc sửa chữa lại, ghi câu:" Đại Nam Thần Dõng Đại Tướng Quan truy tặng Ngũ Quân Quận Công, Trương Công Định chi mộ".

Tới năm 1956, mộ được trùng tu và thêm hai câu đố nữa:

TRƯƠNG chí quật cường, võ liệt nêu cao đất Việt,

ĐỊNH tâm kháng chiến, văn mô chói rạng trời Nam".

...
TruongCongDinhB
Previous page 43/43 Next page
 

1000$ Một ngàn đồng:
Kỳ 5: Có 3 loại
Ngày phát hành: Không phát hành
Hình: Dinh Độc Lập
Khuôn khổ: 152mm x 75mm

 
Copyright TTT

...

chia ra làm 3 kỳ.