Nguyễn Huệ tục danh là Thơm, sanh năm 1752, con ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn thị Đồng. Thuở nhỏ thụ nghiệp Giáo Hiến, nguyên là môn khách của Trương văn Hạnh, Ngoại hữu dưới triều Định Vương. Gặp lúc Quốc phó của chúa Nguyễn là Trương Phúc Loan chuyên quyền, Nguyễn Huệ cùng anh là Nguyễn Nhạc và em là Nguyễn Lữ nổi dậy chống chúa Nguyễn.
Năm 1786, Nguyễn Nhạc xưng vương ở Qui Nhơn, tự phong làm Trung Ương Hoàng Đế, đặt niên hiệu Thái Đức, phong Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân.
Nguyễn Huệ có biệt tài về quân sự, nên đánh bại Nguyễn Phúc Ánh nhiều lần phải chạy trốn sang Xiêm.
Năm Giáp Thìn 1784, Nguyễn Ánh viện binh ở Xiêm về, Quân Xiêm tàn ác với nhân dân, đi đến đâu cũng hãm hiếp, cướp bóc, dân tình oán than. Nguyễn Huệ đã mang quân từ ngoài Trung vào, dùng kế phục binh đánh tan 20.000 quân Xiêm và phá vở 300 chiến thuyền tại Xoài Mút thuộc địa phận Mỹ Tho.
Tháng 5 năm Bính Ngọ 1786, nghe theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ tự mình cầm quân kéo ra Bắc lấy tiếng diệt Trịnh phò Lê, và thắng quân Trịnh dể dàng để kéo quân Tây Sơn vào Thăng Long. Để tỏ ý phò Lê, Nguyễn Huệ vào yết kiến vua Lê Hiển Tôn, và được vua Lê phong làm Đại Nguyên Soái Phù Chính Dực Vận Uy Quốc Công, và sau đó vua Lê gả Công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ đem quân vè Phú Xuân.
Vua cuối cùng nhà Lê là Lê Chiêu Thống vì không phục Tây Sơn, sang cầu cứu nhà Thanh bên Tàu được vua Thanh cử Tôn Sĩ Nghị đem 200.000 quân sang nước ta với danh nghĩa gíúp vua Lê nhưng với thâm ý cướp nước.
Được tin quân Thanh kéo vào Thăng Long nhũng nhiễu cướp phá, dân chúng ta thán, Nguyễn Huệ hội họp tướng sĩ bàn việc mang quân ra đánh.
Vì là cuộc khởi binh chống ngoại xâm nên tướng sĩ yêu cầu Nguyễn Huệ đứng trên cương vị toàn dân, toàn quốc để danh chính ngôn thuận, nên ngày 25 tháng Một năm Mậu Thân 1788, Nguyễn Huệ làm lễ tế cáo Trời Đất tại núi Bân Sơn (Thuận Hóa) lên ngôi Hoàng Đế, lấy niên hiệu Quang Trung rồi kéo đại quân 10 vạn, 100 thớt voi ra bắc đánh quân Thanh.
Đoàn quân chinh phạt được cho phép ăn Tết trước cho lòng quân phấn khởi, rồi Ngài truyền lịnh đi gấp từ ngày 20 tháng Chạp, hẹn đến ngày mùng 7 Tết Kỷ Dậu vào Thăng Long ăn Tết lại. Vì đại quân cần di chuyển gấp, Ngài đã cho lập từng tổ 3 người lính, cứ 2 người vỏng một người. Khi hai người này đi thì người nằm võng được ngủ, và cứ thay phiên. Đoàn quân tiến nhanh không ngừng nghỉ thì vấn đề ăn uống cũng được đặt ra. Ngài cho quân tiền trạm chạy ngựa trước đại quân để nấu cơm vắt và bánh tét. Dân chúng từ Nghệ An trở ra Bắc hân hoan ủng hộ đạo quân chính nghĩa nên làng xã tự động nấu bánh tét, cột hai đòn làm một để gởi cho đoàn quân quảy theo, vừa đi vừa ăn, khỏi phải dừng binh nấu nướng. Có nơi làm bánh đa (bánh tráng) đẻ tiếp tế. Theo đúng chiến lược hành quân thần tốc, giữ bí mật không cho địch biết, nên khi qua sông Giản Thủy, quân Tây Sơn tiến đến huyện Phú Xuyên bắt sống trọn vẹn quân Tàu ở đấy, không tên nào chạy thoát nên quân Tàu đóng ở Thăng Long và các vùng ngoại thành không hay biết.
Mùng 3 Tết, vua dùng kế hư binh hạ thành Hà Hồi, ngày mùng 5 Tết chiếm đồn Ngọc Hồi, cách Hà Nội 16 cây số về phía Tây Nam (nay là huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông). Chỉ huy đồn này là Đề Đốc Hứa Thế Hanh và tiền phong Trương Sĩ Long của giặc đều bị tử trận. Tại đồn Đống Đa cách Thăng Long 5 cây số về phía Tây Nam, Đô Đốc Bảo và Đô Đốc Mưu của Tây Sơn công hãm dữ dội, chủ tướng quân Tàu là Sầm Nghi Đống sợ quá phải thắt cổ tự tử. Trong thành Thăng Long, thượng tướng Tôn Sĩ Nghị nghe cấp báo, hoảng hốt không kịp mặt áo giáp, cùng mấy tên thủ hạ chạy qua sông Hồng trốn về Tàu, đến địa phận huyện Phượng Nhãn vứt bỏ ấn tín, thoát lấy thân. Quân Thanh chen nhau qua cầu phao, cầu sập, lính rớt xuống sông chết vô số.
Trong trận đánh đuổi quân Thanh xâm lăng, vua Quang Trung ngồi trên mình voi, áo bào nhuộm đen thuốc pháo. Nguyễn Huệ là một thiên tài quân sự chưa bao giờ nếm mùi thất bại. Cái giỏi của vua ở điểm xuất thân là kẻ ít học, chỉ là "kẻ áo vải", một người bạch đinh trở thành tướng lãnh tài ba. Nguyễn Huệ lại lắm mưu nhiều trí. Không có trận đại thắng nào mà vua không dùng tới mưu. Trận đầu tiên đi vào sữ sách là trận đánh úp quân của chúa Nguyễn là Tống Phước Hiệp bằng kế "dụ địch", sau dó là trận chiếm Phú Xuân (1786) với kế "ly gián và dụ địch" khiến hai tướng Phạm Ngô Cầu và Hoàng Đình Thể nghi kỵ nhau và Phạm Ngô Cầu mắc mưu, bắt quân lính phục dịch mọi việc không còn hơi sức để chiến đấu. Kế đến trận phá tan 20.000 quân Xiêm hung hăng do Nguyễn Ánh mời về. Lần này vua dùng kế "Phục kích". Khi ra Bắc hạ diệt họ Trịnh, Nguyễn Huệ dùng đường thủy ngược dòng Hồng Hà đến địa phận Lỗ Giang chạm với thủy quân họ Trịnh do Đinh Tích Nhưỡng chỉ huy. Nơi đây, quân họ Trịnh bị kế dụ địch nên mắc lừa, bắn vào thuyền không người trong lúc đêm tối, đến khi sáng ra thì hết đạn, quân Tây Sơn ập tới phá tan tuyến phòng thủ trấn giữ kinh thành, khiến cho quân Tây Sơn vào Thăng Long không mấy khó khăn.
Đến khi đại phá quân Thanh, Nguyễn Huệ vận dụng mưu trí càng tuệt vời hơn. Tôn Sĩ Nghị vốn tính kiêu căng. Từ khi sang nước ta chưa gặp được sức kháng cự nào, Nghị càng dương dương tự đắc, lại càng chủ quan khi Lê Quýnh yêu cầu động binh, Nghị nói: "Việc gì phải lật đật như thế? chẳng qua như lấy đồ trong túi, lấy sớm thì được sớm, lấy muộn thì được muộn. Bây giờ sắp hết năm, đại quân ta đi xa cần phải nghỉ ngơi. Giặc gầy ta béo, để nó tự đến nộp thịt".
Chưa rõ tình hình ra sao mà Nghị tự đắc kiêu căng nen bị kế "kiêu địch" của Nguyễn Huệ. Vua đã gỉa bộ gởi thơ tới Tôn Sĩ Nghị xin hàng, để tạo thêm lòng kiêu hãnh của Nghị, rồi với yếu tố "bất ngờ và hành binh thần tốc", vua đã cho 200.000 quân Thanh manh giáp không còn để Tôn Sĩ Nghị phải chui trốn vô ống đồng mới khỏi chết.
Ngoài mưu trí, Nguyễn Huệ biết chỉ huy để áp dụng kế hoạch chiến đấu tài tình như: chuyển binh thần tốc mà địch không hay kịp, dùng ván ghép thành mộc để đội quân 20 người tiến quân đánh cận chiến, biết dùng loại súng phun lửa (hỏa hổ), và trong lịch sử nước ta, vua là người biết sử dụng tượng binh (voi trận) có lẽ miền Trung, voi có nhiều hơn miền Bắc và miền Nam quá sình lầy. Vua thích cởi voi để xông trận trên đất Bắc (trong Nam vì xa xôi, lại sình lầy nên đánh miền Nam, vua chỉ dùng thuyền). Voi trận của Nguyễn Huệ là một lực lượng xung kích rất lợi hại, chẳng khác nào như "lực lượng xe tăng thiết giáp" thời nay, khiến cho quân Tây Sơn càng thêm dũng mãnh.
Vua Quang Trung là vị anh hùng tài giỏi của nước Việt. Tiếc thay nhà vua yểu mệnh, Ngài mất năm 1792, thọ 40 tuổi, nhưng lịch sử đời đời lưu danh chiến thắng lẩy lừng ở Thăng Long mà hiện nay dì tích hãy còn là gò Đống Đa, nơi chôn xác gần 20 vạn quân Thanh xâm lược.