Ngài là đệ nhất công thần đời Trần xứng đáng là vị anh hùng dân tộc của thế kỷ 13, dưới đời vua Trần Thánh Tôn, Trần Nhân Tôn. Ngài đã lãnh đạo những chiến công sáng chói chống giặc Nguyên xâm lăng.
Ngài người làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, phủ Xuân Trường, tĩnh Nam Định, sanh khoảng năm 1230.
Trong lịch sữ Việt Nam, không có thời kỳ nào oai hùng bằng thời kỳ Hưng Đạo Đại Vương hai lần phá quân Nguyên, lần thứ nhất chỉ trong 6 tháng, từ tháng chạp năm Giáp Thân 1284 đến tháng 6 năm Ất Dậu 1285, đánh tan 50 vạn quân giặc, giết tướng Toa Đô, thái tử Thoát Hoan phải chui vào ống đồng trốn sang Tàu. Lần thứ thai từ tháng 2 năm Ất Hợi 1287 đến tháng 3 năm Mậu Tý 1288 quét sạch 30 vạn quân Nguyên, bắt tướng Ô Mã Nhi. Thoát Hoan lại phải chạy trốn lần nữa.
Tháng 10 năm Quý Mão 1283, quân Nguyên dưới quyền chỉ huy của Thái Tử Thoát Hoan hùng hổ kéo quân sang xâm chiến nước ta. Ngài được Vua phong làm Quốc Công Tiết Chế, thống lãnh mọi quân để đối phó với giặc.
Quân giặc hung bạo quá mạnh nên các ải Kha Li, Lộc Châu, Chi Lăng của ta bị thất thủ, quân ta phải rút về Vạn Kiếp. Vua Nhân Tôn thấy quân ta yếu thế, muốn đầu hàng để tránh sự khổ đau cho dân chúng, Ngài khẳng khái tâu: "Xin trưóc hãy chém đầu thần rồi sau hãy hàng".
Ngài rước Vua về Thiên Trường rồi sau về Thanh Hóa để cố thủ.
Chẳng bao lâu, sau khi luyện tập binh sĩ vào tháng 10 năm 1282?, Vua Trần mở hội nghị tại Bình Than để họp bá quan văn võ với vương hầu, và tháng 12 năm 1284 mời các bô lão đại diên dân chúng toàn quốc về dự hội nghị Diên Hồng nêu cao khí thế toàn dân quyết tâm đoàn kết chống giặc nên quân Nguyên phải thua nhiều trận. Ta đánh bại Toa Đô ở Hàm Tử quan, thắng quân giặc ở Chương Dương độ, Vạn Kiếp, Tây Kết, đánh cho Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới chạy thoát về Tàu, quân ta thu phục lại Thăng Long.
Đã từng có tiếng là một đoàn hùng binh thiết kỵ gieo rắc sợ hãi, và từng bách chiến bách thắng từ Á sang Âu mà Thành Cát Tư Hãn đã nói: "Chỗ nào có vó ngựa ta qua thì cỏ không mọc lại", nay lại chịu thua một nước nhỏ bé sao nên quân Nguyên muốn rửa nhục. Tháng hai năm Đinh Hợi 1287, Thoát Hoan mang 300.000 quân sang báo thù.
Ngài biết quân giặc hung hăng quyết rửa nhục nên đã dụ chúng đi vào đất ta chờ lúc quân giặc bớt nhuệ khí và lương thực sắp cạn (1288), Ngài ra lệnh cho Trần Khánh Dư chận đoạt thuyền lương giặc tại Vân Đồn. Bọn giặc nao núng không còn thiết gì ngoài việc đua nhau đi cướp bóc. Thoát Hoan cũng nản chí, bèn ra lệnh cho Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dẫn thủy quân theo ngả Bạch Đằng giang, còn Trương Bằng Phi và Truơng Quân làm hậu tập để hộ vệ y chạy theo đường bộ rút về.
Trong lúc quân giặc đang úng túng, Hưng Đạo Vương phân phối quân đi chận các ngả:
Trên mặt bộ, Ngài cho đào hầm hố đánh bẫy ngựa, quân phục kích có nhiệm vụ cắt đường, phá cầu cống ở những lối quân giặc sẽ chạy qua.
Về mặt thũy, Ngài cho đóng các cọc gổ đầu bịt sắt nhọn ở thượng lưu sông Bạch Đằng, trên phủ bè cỏ để đợi giặc. Nguyễn Khoái phục binh ở đây chờ nước thủy triều lên thì ra khiêu chiến, dụ giặc qua chỗ đóng cóc, chờ khi nước thủy triều rút, quay lại phản công.
Bố trí xong, Hưng Đạo Vương hô quân sĩ chỉ tay xuống sông Hoá giang cùng thề: "Trận nầy không phá được giặc, thề không trở lại khúc sông nầy nửa"
Sau lời thề quyết liệt ấy, quân ta kéo thẳng đến sông Bạch Đằng.
Hôm sau quân Ô Mã Nhi tới nơi, hai bên giáp chiến quân ta gỉa thua chạy, giặc tung hết lực lượng đuổi theo. Bấy giờ nước rút mau chóng, Nguyễn Khoái nhử giặc khỏi chỗ đóng cọc một quảng xa rồi quay thuyền trở lại đánh quyết liệt. Quân của Hưng Đạo Vương tiếp đến. Giặc thấy quân ta mạnh bèn rút lui, tới khúc sông có đóng cọc, thuyền bị đâm vào cọc chìm hết. Vua Trần cũng đem quân đến. Ô Mã Nhi thấy nguy hiểm liền gom tàn quân định rút lui nhưng không kịp. Quân Nguyên chết, máu đỏ ngầu mặt sông. Bốn trăm thuyền giặc bị ta thu được. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp và Tích Lê Ngọc Cơ bị bắt giải đến trước mặt vua Trần. Trong khi đó, về phía mặt bộ, Thoát Hoan kéo quân về , bị phục kích, chạy trối chết. Dân quân ta giết giặc nhiều vô số.
Hưng Đạo Vương rước Vua và Thượng Hoàng về Thăng Long. Thượng Hoàng Trần Thánh Tôn có làm hai câu đối để kỹ niệm thắng trận:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ diện kim âu.
dịch nôm:
Xã tắc hai phen bon ngựa đá,
Non sông muôn thuở vững âu vàng.
Vua sai mở tiệc ba ngày cho quân dân ăn mừng gọi là Thái Bình Diên Khánh.
Hưng Đạo Vưong lúc bấy giờ đã 62 tuổi, được phong làm Thái Sư, Thượng Phụ, Thượng Quốc Công, Bình Bắc Đại Nguyên Soái, Hưng Đạo Đại Vương.
Đến đời vua Trần Anh Tông, Vương xin về trí sĩ ở Vạn Kiếp và mất ở đó ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý 1300, thọ 74 tuồi.